Mình và ta
(QNg)- Phép xưng hô tiếng Việt có rất nhiều phiền phức và cũng rất lạ như đã có lần Xưa... Nay luận bàn. Đơn cử như đại từ nhân xưng Ta, có thể là tôi và cũng có thể là chúng ta, như trong câu thơ Xuân Diệu: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất, không có chi bè bạn nổi cùng ta”, thì ta dứt khoát phải là tôi, còn khi Tố Hữu viết “Ta vì ta ba chục triệu người”, thì ta đây lại có nghĩa là chúng ta.
Nhưng chừng ấy cũng chưa lạ bằng đại từ nhân xưng mình. Mình chính là tôi, ngôi thứ nhất số ít (ego), chẳng hạn trong đời thường một người nào đó tự xưng mình với bè bạn. Nhưng kìa, ca dao lại có câu: “Mình nói với ta mình hãy còn son”, thì mình ở đây lại không phải ngôi thứ nhất số ít nữa, mà ngôi thứ nhất số ít lại thuộc về ta. Tôi sực nhớ ở người lớn tuổi xưa kia, có rất nhiều khi người chồng gọi người vợ không phải em (và dứt khoát không phải mày) mà là mình. Một cách xưng hô vừa bình đẳng lại vừa trìu mến. Cái lạ, cũng lại là cái hay, ở đây chính là ở chỗ đại từ nhân danh rất “nhập nhèm” giữa ngôi thứ nhất số ít với ngôi thứ hai số ít. Mình có thể là ta mà không hẳn là ta. Nhưng có gì đó thân thiết lắm mới có thể dùng là mình, hoặc dùng theo cặp mình-ta. Đó là một thứ “đặc ngữ” riêng có trong phép xưng hô của tiếng Việt, mà khi dịch ra tiếng nước ngoài, như tiếng Anh chẳng hạn, hẳn sẽ không biết dịch ra sao.
Thứ “đặc ngữ” ấy chính là cái mà nhà thơ Tố Hữu đã khai thác một cách triệt để và đầy thông minh trong bài thơ dài Việt Bắc: “Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng/Mình về mình có nhớ không/Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn...” Cả bài thơ là sự lặp đi lặp lại của hai từ xưng hô mình-ta, là sự giãi bày nối lòng của mình-ta.
Ấy là cái tâm thế sau chiến thắng Điện Biên, người từ xuôi lên Việt Bắc kháng chiến quay về xuôi, về thủ đô Hà Nội giải phóng, sau mười lăm năm gắn bó với Việt Bắc. Kẻ đi, người ở có biết bao kỷ niệm, bao nhiêu sự bịn rịn trong lúc phân ly. Và trước khi ra đi, chữ nhớ luôn được lặp lại. Khi thì nhớ (các kỷ niệm đẹp thì quá khứ), khi lại căn vặn có nhớ (cho thì tương lai):
“- Nhớ người đan nón tước từng sợi giang...”/”Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời”/”Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường”/”Mình về có nhớ chiến khu”/”Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”.
Mình-ta trong mối quan hệ thân thiết, trong tâm trạng lúc chia ly, trong nỗi nhớ, chính là cấu tạo tứ thơ độc đáo trong bài thơ. Thời còn trẻ, đi học, tôi lẩn quẩn cứ lần theo các khổ thơ xem ai là mình, ai là ta, trong số người đi kẻ ở. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình hơi lẩn thẩn. Mình chính là ta, và ta cũng là mình đấy thôi. Cũng như trong bài thơ ấy, có lúc Tố Hữu đã chập hai nhân vật làm một trong cùng chữ Mình: “Mình đi mình có nhớ mình”. Cái độc đáo của Tố Hữu là sự vận dụng phép biến ảo của mình, ta trong lối xưng hô tiếng Việt, trong ca dao để nói cái nghĩa tình sâu đậm của người kháng chiến. Nhân ngày thương binh liệt sĩ, nhớ lại một chút về bài thơ bất hủ này hẳn cũng là điều hay.
Cao Chư




